Ba con số NPK trên bao phân là phần trăm khối lượng của đạm (N), lân (tính theo P₂O₅) và kali (tính theo K₂O); cây chậu lá cần nhiều đạm hơn, cây hoa cần cân đối và kali đủ, còn lượng bón thì nguyên tắc an toàn là "ít mà đều": pha loãng hơn mức ghi trên bao và bón theo nhịp sinh trưởng, ngừng hoặc giảm khi cây nghỉ. Phân tan chậm rải mặt chậu hợp người bận rộn; phân hoà tan pha nước tưới dễ kiểm soát; phân bón lá chỉ là bổ sung, chủ yếu cho vi lượng.
Cây trong chậu sống nhờ một khối giá thể nhỏ, dinh dưỡng trong đó cạn nhanh và bị nước tưới rửa trôi dần. Vì vậy cây chậu cần bón đều hơn cây trồng đất. Nhưng cũng vì khối giá thể nhỏ, phân thừa không có chỗ loãng ra, dễ làm cháy rễ. Bài này giúp đọc bao phân, chọn dạng phân, tính lượng bón, và biết khi nào không nên bón.
Đọc ba con số NPK và phần chữ nhỏ trên bao
Một bao ghi 20-20-20 nghĩa là trong mỗi trăm phần khối lượng phân có hai mươi phần đạm, hai mươi phần lân quy đổi ra P₂O₅ và hai mươi phần kali quy đổi ra K₂O. Cách quy đổi theo ôxít là quy ước lâu đời trong ngành phân bón; lượng phốt-pho và kali nguyên tố thực tế thấp hơn con số ghi, nhưng điều đó không quan trọng với người chơi cây, vì mọi bao đều ghi theo cùng một cách nên so sánh được với nhau.
Đạm thúc ra lá, ra chồi; thiếu đạm thì lá già vàng đều từ dưới lên, cây còi. Lân tham gia vào ra rễ, ra hoa, chuyển hoá năng lượng; cây chậu hiếm khi thiếu lân nặng nếu đã dùng phân cân đối. Kali giúp cây cứng cáp, chịu hạn, hoa và quả chắc; thiếu kali thì mép lá già cháy vàng, nâu. Ngoài ba chất chính, bao phân tốt ghi thêm trung lượng (canxi, magie, lưu huỳnh) và vi lượng (sắt, mangan, kẽm, đồng, bo, molypden). Với cây trồng trong giá thể không đất như mụn dừa, perlite, phần trung vi lượng quan trọng hơn người ta nghĩ.
Một chi tiết hay bị bỏ qua là dạng đạm. Đạm nitrat cây hút được ngay; đạm amoni và urê cần vi sinh vật trong giá thể chuyển hoá, nhanh khi trời ấm, chậm khi lạnh. Phân urê thuần rải vào chậu nhỏ vừa dễ cháy rễ vừa dễ thất thoát, nên không phải lựa chọn tốt cho cây cảnh.
Phần chữ nhỏ cũng đáng đọc: dạng đạm (nitrat, amoni hay urê), hướng dẫn pha, liều cho cây cảnh. Nếu bao chỉ ghi liều cho cây ruộng, cây ăn trái, hãy hiểu rằng cây chậu cần pha loãng hơn nhiều. Không chắc thì bắt đầu ở khoảng một nửa liều ghi và quan sát cây.
Chọn tỷ lệ NPK theo nhóm cây và giai đoạn
Không cần nhớ con số chính xác; quan trọng là tỷ lệ tương đối giữa ba chất. Bảng dưới là định hướng chung cho cây cảnh chậu:
| Nhóm cây, giai đoạn | Tỷ lệ nên chọn | Ví dụ dạng tỷ lệ | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Kiểng lá trong nhà | Đạm cao hơn hoặc cân đối | Kiểu 3-1-2 hoặc cân đối 1-1-1 | Đạm quá nhiều trong phòng thiếu sáng làm cây vống, thân yếu |
| Cây hoa chậu đang ra nụ, ra hoa | Cân đối, kali đủ | Kiểu 1-1-1 hoặc kali nhỉnh hơn | Phân "kích hoa" lân rất cao không thay được ánh sáng đủ |
| Cây con, cây vừa thay chậu đã hồi phục | Cân đối, pha rất loãng | Kiểu 1-1-1 | Rễ non nhạy với muối phân |
| Sen đá, xương rồng | Đạm thấp, pha loãng | Kiểu cân đối hoặc đạm thấp | Đạm nhiều làm cây mềm, vống, dễ thối |
| Cây trong giá thể dừa, không đất | Có canxi, magie, vi lượng | Bất kỳ, miễn đủ trung vi lượng | Thiếu canxi, magie hay gặp ở giá thể dừa |
Tỷ lệ trong cột thứ ba chỉ để minh hoạ cách nghĩ; các bao phân trên thị trường có rất nhiều công thức khác nhau. Hai bao có cùng tỷ lệ nhưng nồng độ khác nhau (ví dụ 10-10-10 và 20-20-20) thì bao đậm hơn cần pha loãng hơn.
Phân tan chậm, phân hoà tan, phân hữu cơ: mỗi loại làm việc gì
Phân tan chậm có vỏ bọc. Hạt phân được bọc một lớp vỏ cho nước thấm vào từ từ, phân nhả dần trong vài tháng tuỳ loại. Tốc độ nhả phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ và độ ẩm: trời nóng, tưới nhiều thì nhả nhanh hơn thời gian ghi trên bao, điều cần nhớ ở khí hậu nóng ẩm như nước ta. Hợp với người bận rộn, cây ban công, cây hoa.
Phân hoà tan (phân pha nước). Dạng bột hay dung dịch pha vào nước tưới, cây hấp thu nhanh. Ưu điểm là dễ điều chỉnh: muốn giảm thì pha loãng hơn, muốn ngừng thì ngừng ngay. Hợp kiểng lá trong nhà, cây trong chậu tự tưới, cây trồng bán thuỷ canh.
Phân hữu cơ. Phân trùn quế, phân bò, phân dê ủ hoai, phân hữu cơ dạng viên. Nhả chậm, nồng độ thấp, ít nguy cơ cháy rễ, cải thiện giá thể và nuôi vi sinh. Nhược điểm là khó biết chính xác lượng dinh dưỡng, có mùi, dễ kéo ruồi đất nếu dùng trong nhà. Chi tiết ở bài riêng về phân hữu cơ.
Phân dạng viên nén, que cắm. Thực chất là phân tan chậm ép thành viên, que. Tiện, nhưng nhả tập trung quanh chỗ cắm; cắm sát gốc chậu nhỏ dễ làm cháy một phần rễ. Cắm gần thành chậu và dùng ít hơn mức ghi với chậu nhỏ.
Phân hạt rải gốc thông thường. Phân hạt không bọc vỏ dùng cho cây ruộng tan rất nhanh khi gặp nước. Rải một nhúm vào chậu nhỏ là cách gây cháy rễ phổ biến nhất ở cây cảnh. Nếu dùng, phải hoà tan và pha loãng.
Phân bón lá: khi nào có ích, khi nào không
Lá hấp thu được một phần dinh dưỡng qua lớp biểu bì và khí khổng, nhưng lượng hấp thu được qua lá nhỏ hơn nhiều so với qua rễ. Vì vậy phân bón lá không thay được việc bón gốc với các chất cây cần nhiều như đạm, kali. Chỗ phát huy của phân bón lá là bổ sung nhanh vi lượng, nhất là sắt, magie, kẽm, khi cây có triệu chứng thiếu, hoặc khi rễ đang yếu không hút tốt.
Phun vào sáng sớm hoặc chiều mát, khi khí khổng mở và nắng không làm giọt phân khô quá nhanh, để lại muối cháy đốm lá. Pha đúng hoặc loãng hơn mức ghi, phun đều cả mặt dưới lá. Không phun cho cây lá có lông như violet châu Phi, một số loài thu hải đường, vì giọt nước đọng lại dễ gây đốm. Cây trong nhà ít gió, lá ướt lâu, nên phun ít và đảm bảo thoáng.
Một trường hợp hay gặp: lá non vàng nhạt trong khi gân lá còn xanh, ở cây trồng giá thể kiềm hoặc tưới nước giếng nhiều đá vôi. Đó thường là cây khó hút sắt. Phun phân vi lượng có sắt có thể làm lá xanh lại tạm thời, nhưng gốc rễ của vấn đề nằm ở độ kiềm giá thể, cần xử lý bằng cách thay giá thể, đổi nguồn nước hoặc xả rửa.
Bón bao nhiêu là đủ: lịch bón an toàn cho người mới
Không có lịch đúng cho mọi nhà, nhưng khung dưới đây ít khi gây hại và dễ chỉnh theo cây:
- Xác định mùa sinh trưởng của cây ở chỗ bạn: cây ra lá non đều là đang sinh trưởng. Chỉ bón trong thời gian này.
- Với phân hoà tan: pha khoảng một nửa liều ghi trên bao, tưới thay nước thường mỗi hai đến bốn tuần với kiểng lá trong nhà, dày hơn với cây hoa ngoài nắng.
- Với phân tan chậm: rải lượng thấp nhất trong khoảng ghi trên bao, rải đều sát thành chậu, phủ nhẹ một lớp giá thể mỏng; ghi lại ngày rải để không rải chồng.
- Tưới ẩm giá thể trước khi bón phân pha nước. Bón vào giá thể khô kiệt dễ làm rễ hút đậm đặc và cháy.
- Quan sát trong vài tuần: lá mới to, xanh đều, đốt không quá dài là vừa. Lá xanh đậm bóng, thân vống, mép lá cháy là thừa. Lá già vàng dần từ dưới, lá mới nhỏ là thiếu.
- Giảm hoặc ngừng bón khi cây nghỉ: mùa đông lạnh ở miền Bắc, cây vừa thay chậu, cây đang bệnh hay đang úng.
- Mỗi một hai tháng, tưới đẫm bằng nước sạch để xả bớt muối tích trong giá thể.
Những lúc không nên bón phân
Bón phân không phải thuốc chữa mọi triệu chứng. Có những lúc bón thêm làm tình hình tệ hơn:
- Cây đang úng, rễ thối: rễ hỏng không hút được, phân chỉ làm tăng nồng độ muối quanh rễ đang yếu.
- Cây vừa thay chậu, vừa giâm cành ra rễ: chờ cây ra lá non mới bắt đầu bón rất loãng.
- Cây thiếu sáng: cây trong góc tối vàng lá, vống thân vì thiếu ánh sáng chứ không phải thiếu phân. Bón thêm đạm càng làm cây vống.
- Cây đang bị sâu chích hút nặng như rệp sáp, nhện đỏ: đạm thừa làm mô non mềm, côn trùng càng ưa. Xử lý sâu trước.
- Giá thể có cặn trắng dày trên mặt, mép lá cháy hàng loạt: đây có thể là thừa phân, cần xả rửa chứ không bón thêm.
- Cây đang chịu nắng nóng gay gắt ở ban công, héo trưa: tưới nước và che bớt nắng trước, bón sau khi cây ổn định.
Ví dụ giả định: pha một bình tưới cho cả nhà
Giả sử bạn mua một bao phân hoà tan cân đối, trên bao hướng dẫn cho cây cảnh là một gam phân cho một lít nước, tưới mỗi tuần. Nhà có khoảng mười chậu kiểng lá trong phòng và vài chậu hoa ngoài ban công. Đây là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải liều khuyến nghị cho mọi loại phân.
Với kiểng lá trong nhà, ánh sáng hạn chế, cây dùng phân chậm: pha một nửa liều, tức khoảng nửa gam cho một lít, tưới hai tuần một lần thay cho nước thường. Một bình năm lít cần khoảng hai gam rưỡi phân. Cân nhỏ nhà bếp đo được mức này; không có cân thì đo bằng thìa đong và ghi lại thìa nào tương ứng bao nhiêu gam theo hướng dẫn trên bao.
Với chậu hoa ngoài ban công đang ra hoa, nắng nhiều, cây dùng phân nhanh: có thể giữ nửa liều nhưng tưới mỗi tuần, hoặc đủ liều hai tuần một lần, tuỳ cây phản ứng. Chậu tự tưới thì pha loãng hơn nữa vì muối không được rửa trôi theo lỗ đáy.
Điểm quan trọng của ví dụ không nằm ở con số mà ở cách làm: bắt đầu thấp, ghi lại, quan sát vài tuần rồi chỉnh. Bón đậm rồi phải xả rửa cứu cây tốn công hơn nhiều so với bón loãng rồi tăng dần.
Câu hỏi thường gặp
Phân NPK 30-10-10 có dùng cho cây cảnh được không?
Được với kiểng lá đang sinh trưởng mạnh, đủ sáng, nếu pha loãng. Đây là công thức đạm cao, dùng lâu cho cây trong nhà ít sáng dễ làm cây vống, lá mềm. Cây hoa và cây mọng nước nên dùng công thức cân đối hơn.
Bón phân tan chậm rồi có cần bón thêm phân pha nước không?
Thường không cần trong thời gian phân tan chậm còn tác dụng. Bón chồng dễ thành thừa. Nếu cây có dấu hiệu thiếu vi lượng, có thể phun phân bón lá vi lượng thay vì bón thêm NPK vào gốc.
Có nên bón phân vào mùa đông ở miền Bắc?
Phần lớn cây cảnh lớn chậm khi trời lạnh, nên giảm mạnh hoặc ngừng bón. Cây trong phòng ấm, có đèn trồng cây, vẫn ra lá non đều thì có thể bón loãng hơn và thưa hơn mùa ấm.
Phân kích ra hoa có làm cây nhiều hoa hơn không?
Phân có lân, kali cao hỗ trợ cây đã đủ điều kiện ra hoa, nhưng không thay được ánh sáng, tuổi cây, nhiệt độ hợp. Cây hoa đặt thiếu nắng thì bón kích hoa gần như không có tác dụng.
Làm sao biết cây đang thiếu phân hay thiếu sáng?
Thiếu sáng thì thân vống dài, lá mới nhỏ, nhạt, cây nghiêng về phía cửa sổ. Thiếu phân thì lá già vàng dần từ dưới lên, cây chậm lớn dù đủ sáng. Thử đổi chỗ sáng hơn trước khi tăng phân.
Phân bón lá có thay được bón gốc không?
Không. Lá hấp thu được một lượng nhỏ so với rễ, nên phân bón lá chỉ là bổ sung, nhất là cho vi lượng hoặc khi rễ đang yếu. Nguồn dinh dưỡng chính của cây chậu vẫn là bón vào giá thể.